Nhà văn Mạc Can

Những bài viết về nhà văn Mạc Can

Uyên và mùa đông ở Grand Prairie

  • Home
  • Uyên và mùa đông ở Grand Prairie

Truyện ngắn của Mạc Can

Dù sao Huy cũng tới nơi nầy hơn một năm. So với chỗ Huy ở lúc trước, mạng trên Houston nhộn nhịp gần giống Sài Gòn cũ. Thời gian tuy không nhiều nhưng có vài điều để nhớ lại. Bây giờ thì ngôi nhà gỗ Huy đang trú ngụ là nhà xưa, theo người chủ Mỹ già cho Huy thuê, nó đã có từ những năm 1930. Lúc mới tới Huy hay khẽ mỉm cười dim mắt nhìn một vòng tròn. Chung quanh mảnh đất khá rộng có nhiều cây lớn và một cây lê nhỏ, vài con ong be bé với bầy kiến vàng li ti. Khó thấy muỗi, người trong nước nghĩ rằng Thiên Đường là không có lụt lội hay có muỗi, nhưng “tôi biết là có” vì có tiếng vo ve bên tai, còn những con sóc trên các cành cây Pi Căn nữa chứ. Vả lại thì vô số chuột trên trần nhà thấp.

Trước đây. Huy thích sự cô độc với khung cảnh hoang vắng. Cứ sau chuyến dã ngoại, cọ màu giá vẽ trên vai, Huy trở về, ngồi một mình trên căn gác hẹp. Nơi nầy Huy thu dọn thành một phòng tranh, chật chội, căn nhà gỗ nằm trong một khu dân cư thu nhập thấp phần nhiều là người Mễ, mỗi lần nhìn ra cửa dù mưa dù nắng, Huy cũng lại vẽ phác thảo, dù trước mắt vẫn là vậy, khung cảnh im vắng.

Minh họa của Thúy Hằng

Huy căn vải trên cái khung, lên tranh vẽ cái khác hơn những cái nhìn thấy, khá nhộn nhịp trong tưởng tượng. Huy nhớ Sài Gòn, nhớ khu Đakao của mình, và nhớ Hạnh Dung, bây giờ sao mà xa xôi. Nghe nói Hạnh Dung cũng đang ở Mỹ, nhưng có dịp nào gặp, cô ta vẫn là ca sĩ trong các tiệc cưới và sinh nhật của ai đó, thậm chí là hát trong tiệc thôi nôi.

Tới nay. Huy treo và úp vào vách khoảng hơn chục bức tranh khá lạ mắt, vài bức tự họa chân dung mình như là Leonardo da Vinci, hay là Salvador Dali, họa sĩ không khác nhiều với văn sĩ, cùng một nội dung có thể viết, hay vẽ ra nhiều bản phụ, kiểu như tự chép tranh của mình, đạo văn của chính mình, bỏ chữ nầy thêm màu kia. Cũng là trò chơi khá lạ. Không bị thưa ra tòa, không phiền ai ngoài mình. Sự cô độc gặm nhấm Huy mòn mỏi, tuyệt vọng. Huy vẽ chân dung của Hạnh Dung mà lại là người khác, chưa hẳn là Dung.

Năm dài tháng đoạn với Huy chỉ chừng đó việc. Không phải để sinh sống, sống là làm phụ việc trong tiệm bán bánh mỳ Việt Nam với thù lao sáu đô một giờ, trong hiệu bánh của người chủ Việt, không thể khác và khá hơn.

Trong nhiều họa sĩ, thật ít người bán được tranh của mình. Sống với ảo tưởng đôi khi phấn chấn, cho dù yêu thích cuộc sống đạo hạnh như vậy, nhưng có lúc Huy biết rằng, chỉ là ảo tưởng. Không nên bó chặt mình trong một nơi. Mà cần phải tìm cách thoát ra.

Điều đó có vẻ như cần cho Huy và nghề của Huy đang theo đuổi. Huy cứ nghĩ mình sẽ trở thành một nhà họa sĩ lớn, vẽ về đường phố vẽ tĩnh vật và chân dung thiếu nữ. Vẽ trời vẽ đất, mường tượng về cuộc sống, và những gì đã trải qua trong khổ nhọc suốt hơn bốn mươi năm đời mình.

Điều đó với Huy là đủ. Song lần hồi thì có gì đó khang khác phai nhạt, không như Huy tưởng. Huy bắt đầu nghi ngờ chính mình, Huy thấy khó mà vẽ thêm được dù là chỉ một nửa bức tranh, Huy hoang mang khổ tâm, ngờ vực tài năng của mình. Có phải do cái gì đó gần như sự lười biếng chi phối không. Đầu tiên là ở ngoại cảnh mới, trước mắt Huy hiện giờ bất cứ việc gì cũng dừng lại, buổi sáng không khác buổi chiều và đêm cứ như là một, không có gì khác ngoài con đường vắng trước mắt.

Huy chợt hiểu ra, sự siêng năng, lại tỏ ra bất lực và vô ích trong việc nầy. Trong một thế giới xung đột và đang lưỡng lự. Mỗi người mỗi cảnh có phân biệt khác nhau. Vào những lúc việc gì cũng chần chờ như vậy thì thời gian cứ trôi mau. Huy đã hay nheo mắt khi không mang kính, mình già đi một chút mà không hay. Rồi một hôm nhìn chung quanh Huy bỗng thấy tất cả hình như là một nỗi buồn. Thì ra sự cô độc chính là mẹ của nỗi buồn, cũng ngần ấy năm đắn đo bây giờ Huy mới thấy rõ điều đó. Lần thứ hai Huy lại muốn thoát ra. Toàn cảnh và sinh hoạt hàng ngày vẫn cứ vậy.

Một hôm. Bất chợt Huy thấy cuốn sách nói điều đó trong cửa tiệm một đồng của một ông già người ấn nói tiếng Anh khá sõi. Bây giờ trong hoàn cảnh như bị giam cầm, thì bỗng nhiên chuyện xưa cũ như Sagan vẫn trở lại, mới hơn, lạc lõng hơn, khi nào tới tiệm “một đồng Huy lại nhìn thấy cuốn Buồn ơi chào mi nằm lẫn lộn trong suy nghĩ, trong nhiều cái nón rơm, khăn choàng cổ, tóc giả, giày nỉ trong cửa hàng. Buồn ơi thở dài trên cái ngăn đồ cũ tàn tạ, ở lẫn trong đó với câu văn ngân vang mãi tới nay chưa dứt lại là trong cuộc nổi tiếng.

Nhiều người da đen, lẫn da trắng nghèo, người Hoa, người Lào thu nhập thấp tìm chút an ủi khi lang thang như ma trơi trong các quầy hàng. Buồn, song hầu như ai cũng chỉ chào. Chào người đồng cảnh trong một nước Mỹ đang suy thoái và thất nghiệp. Lạ là không ai được chào lại, cùng nhất là chỉ mỉm cười buồn. Không ai mua cuốn sách dù chi chỉ một đồng. Ông Alibaba người chủ tiệm một đồng muốn trao món nợ đó cho Huy và một hai người khác, ai cũng cười cười bỏ lại. Họ nhìn nỗi buồn có vẻ khiếp sợ nó là bóng ma của nước Pháp và Sài Gòn cũ, lúc phong trào hiện sinh tràn qua Viêt Nam.

 Vài người Việt mới qua cũng lang thang trong tiệm một đồng, người da vàng thường bị gọi là người châu Á nói chung. Người Việt định cư thường bị người bản xứ gọi là kampuchia. Không ít người Mỹ trung lưu kỳ thị với người già và dân nhập cư, kể cả của họ, thời này là gánh nặng ngân sách nhiều bang. Huy thấy mình cần một nơi khác nhộn nhịp, với những khuôn mặt bạn bè đồng nghiệp, và các thực tập sinh của trường dạy nghề, để thay đổi cảm giác, một thủ thuật giảm stress, thư viện trong đó có những khung sắt đầy sách báo mỹ thuật và hội họa. Cũng vắng lặng và buồn tênh.

 May thay ngay lúc nầy, vài chuyến đi dã ngoại lại tới, với các họa sĩ trẻ trong số đó có Uyên, thật ra Huy cũng đã nhìn thấy Uyên trong thư viện và trường dạy chữ của Texas. Cũng như Huy thấy cô họa sĩ nhỏ nhắn đi lựa giày suốt buổi trong cái tiệm của người ấn già kia, ông ta cười cứ nhìn theo Uyên lựa xong chục đôi giày rồi đi vòng trả lại, sau đó chọn tiếp… và trả lại. Cô ta tìm cách giảm stress như mọi người chung quanh. Bằng cách lựa giày rồi gọi từng tên các món khác như là đếm cừu.

Dã Ngoại.

Hay thật, chuyến đi khởi hành đúng vào lúc Huy đang khánh kiệt về tinh thần. Thật ra Huy chưa quen với cảnh hoang vắng, mà lúc trước Huy làm dáng, cứ nghĩ mình thích. Còn bây giờ nếu Huy có thể vẽ lại được thì nó gồm trong một ý nghĩa ngắn là nôn nao. Người ta không thể cứ sống một mình, nhất là Huy, tuy chưa già hẳn nhưng vẫn cứ đắn đo chần chừ như một ông lão. Với Quyên hay Uyên không khác, tuy nhiên nhìn gần thì trên mặt cô nàng cũng đã thấy vài vết chân chim, nhưng Uyên mặn mà, ham vui với nghề họa sĩ rong rêu nay đây mai đó. Tuy vậy cả hai, và mọi người vẫn chưa có một cuộc triển lãm nào vắt vai.

Rồi hết những ngày chờ đợi, cũng phải tới ngày đi vẽ, học là chỉ để nhà trường Mỹ cho tiền ăn bánh mỳ, ở Mỹ nhiều chuyện lạ, lạ thật, rồi khi kéo chiếc vali, bước ra khỏi cánh cổng của khu vườn cây, Huy nhìn lại ngôi nhà mà Huy ở trong đó một thời gian khá dài, Huy đi vài bước nữa cho tới khi vói tay mở cửa cổng, bỗng nhiên anh chàng quay lại như có ai nhìn mình. Cây lê đang lặng lẽ chào Huy. Có lẽ cây lê nầy đã ngắm nhìn Huy từ khi Huy mới tới.

Huy mỉm cười thân thiện. Huy đã nhìn thấy cây lê từ ngày mới bước chân tới đây. Nhưng giờ thì Huy trách mình, có lúc đã không chú ý lắm. Bởi nhiều chuyện khác làm Huy bận tâm hơn là cây lê. Ở đây mà không có việc làm thì khó. Không nói tiếng Anh được thì như người câm, không lái xe được thì không khác tên què, không đói hẳn nhưng không có tiền mua xăng, đóng bảo hiểm và hút thuốc lá. Huy xin học lớp Anh văn, để được trợ cấp và vì việc nầy mà Huy gặp Uyên trong thư viện của trường. Cô ta là người Việt gốc Hoa Chợ Lớn, lúc gặp Uyên (Tiểu Quyên) thì cô đang một mình ngồi đọc một quyển sách dầy, chỉ dẫn cách làm nền một phối cảnh với màu nước qua… một cái lược chải đầu.

Huy ngồi gần đó, trong không gian tĩnh lặng của thư viện, không còn người thứ hai nào khác ngoài Uyên cho nên Huy ngắm Uyên như ngắm tranh. Có vẻ gì đó Uyên không khác lắm với cây lê. Cũng một mình một cõi. Cây lê nầy khá ngộ nghĩnh, đáng lý thì cao nhưng ai đó đã cưa bớt ngọn, cho nên hơi thấp, trông vui vui như Uyên. Sau vài lần gặp trong thư viện, Uyên khuyên Huy nên xin thêm trợ cấp bằng cách theo học… lớp hội họa. Một lần nữa phải nói. Ai đó cứ học thì có khi người ta cho tiền để học. Uyên cười: như một cái máy, như Uyên.

Huy trải qua mùa đông khắc nghiệt, mà không biết, một mùa đông dữ dội mà người tại chỗ nói là nhiều năm rồi mới thấy. Nhờ vậy, nhờ không biết trước, nên anh chàng Huy cho là không có gì phải ngại, và Huy vô tư được hưởng cái vòi nước chôn dưới đất cũng đóng băng và nhiều khi phát nổ. Mùa đông nước trong phòng tắm lạnh khủng khiếp, ít tắm da đóng bơn như vẩy cá.

Cám ơn mùa đông. Bước chân tới đây vào mùa hè thiêu đốt, Huy chịu được nóng nhưng với lạnh thì khác, trong thâm tâm Huy không nghĩ mình sẽ qua khỏi. Tôi sợ. Nhưng mùa đông rình mò bước tới cùng các điều lạ với Huy, đầu tiên là bầy chim đen, rồi cỏ úa màu và lần hồi biến mất cùng với lá của các thân cây lớn, trong đó có cây lê không ra trái, cành trĩu nặng tuyết trắng phau, im lặng trước cơn gió lạnh toát. Huy thử đứng ngoài trời bốc tuyết, gió thì lạnh cứng cóng hai bàn tay. Hóa ra tuyết không lạnh bằng gió. Cũng là một thử thách cho tới bây giờ Huy mới biết. Mũi cứ chảy máu tươi còn quấn khăn len nơi cổ cẩn thận vẫn bị ho. Mùa đông trong bệnh viện thu nhập thấp ngồi đầy các ông bà già nhiều chủng tộc co ro hen suyễn tội nghiệp.

 xxx

Huy hẹn Uyên tới nhà để cùng đi. Chiếc xe cũ của Huy dừng lại bên đường tràn tuyết. Trên xe hẳn nhiên có Uyên và chiếc lều vải mà lúc nào cô nàng cũng mang theo, một vài chai rượu chát hạng vừa túi tiền. Rồi thì cả hai cùng đẩy chiếc xe trên con đường vắng, đẩy ngược dốc lên tới giữa cầu vì xe không nổ máy. Uyên ho sặc thè lưỡi leo lên xe Huy. Chiếc xe thả dốc tới một trạm xăng có bán bánh mì và nước ngọt Coca. Người đàn ông mang găng tay, chủ trạm xăng mở cốp xe một cách mệt nhọc. Uyên đứng bên cạnh kéo vành nón len xuống khỏi hai bên tai. Trời chưa đổ tuyết nhiều, lạ là mạng trên một chút ngập tuyết, bão tuyết, phải đổi giờ đi làm trễ hơn, học trò nghỉ học nhiều hơn, chỉ có gió nhưng gió làmbiến mất cả hai tai của Huy. Khi Huy đưa bàn tay không mang găng lên mặt. Một phần mặt lúc nầy vịn vào cũng không thấy có vì gió, tai điếc đặc vì lạnh. Trên trời dưới đất lúc nầy không khác cái tủ lạnh lớn, trữ thịt sống trong siêu thị.

 Người Mễ chủ trạm xăng đi vào cửa hàng. Trong đó đã thấy Uyên trốn gió, đứng trò chuyện bằng chị bằng em với vợ của anh người Mễ. Thì ra mùa nầy xe hơi các loại phải đổ một thứ nước bình khá đặc biệt, nó chống lạnh và không đông cứng. Một chai nước bình màu xanh làm cho chiếc xe khởi động được, nhưng cũng phải khá lâu mới chịu lăn bánh. Uyên nhìn Huy run lập cập hai hàm răng va vào nhau nghe lộp cộp, cô mỉm cười. Vợ của anh người Mễ cũng cười. Uyên đã trải qua nhiều mùa đông ở Nhật ở Úc và cả châu Âu. Cô nàng có kinh nghiệm về gió máy, còn Huy thì chưa. Dù lạnh Uyên cũng không mặc nhiều và dầy như Huy. Xem ra Huy như con bù nhìn người tuyết khổ sở.

Chuyến đi dài qua nhiều nơi trong gần suốt mùa đông, nơi nào trước thềm các thư viện hay nhà triển lãm cũng đầy tuyết. Còn có khi các họa sĩ trẻ được mời nói chuyện trong trường học, trẻ con và người lớn mang áo dầy tới trên những chiếc xe nóc phủ tuyết, lúc đầu thì Huy lo sau đó Huy hớn hở tới nỗi Uyên thấy cũng lạ. Có gì đâu anh chàng Huy mừng và tự tin hơn khi có Uyên bên cạnh. Và vì các họa sĩ địa phương, trong đó có vài cô da trắng thích vóc dáng và cách pha màu bằng tay trái của “Lương Gia Huy”.

Minh họa của Thúy Hằng

Ngồi cạnh Uyên và Huy là một nữ họa sĩ người Ấn Độ. Từ trên xe khi leo lên đồi, cả ba nhìn xuống, thấy dưới kia toàn màu trắng, trên đỉnh núi xa, ở ngọn cao nhất trông giống như mặt người, ông già tuyết ấy đội chiếc nón trắng tinh, hay trên mặt hồ miên man nước cũng đóng băng. Trông như chiếc khăn len trắng toát trải dài tới nơi vô tận.

Rồi mùa đông vẫn chậm qua như lúc mới tới. Nhưng khi Huy trở về căn nhà cũ, cỏ đã xanh xanh còn cuối tầm mắt Huy là cây lê điểm những chiếc lá mới. Trên da mặt trắng tê tái vì lạnh của Uyên, hai má ửng hồng, thêm vài nốt tàn nhang. Huy thấy Uyên có vẻ như bức chân dung nàng Mona Lisa nụ cười bí ẩn.

Nhất là khi nhìn khuôn mặt Uyên ở phía phần tối nhiều hơn. Lúc Uyên vô tình đứng che cây lê dưới ánh mặt trời trốn sau lưng. Giống như ngày đi, khi về Huy dừng chân nhìn cây lê. Hơi khó nhớ? Vì sao bây giờ lại có thêm Uyên đứng bên cạnh, tay ôm cái lều vải. Huy và cây lê có gì gần gũi bởi sự cô độc, mà hãy khoan vội nhận định với tôi lại khác tí chút. Huy hay cúi xuống ngắm bàn chân xấu xí của mình, vì bi quan, trầm cảm và các ảo tưởng, còn cây lê thì không, vẫn tỉnh táo. Có lẽ nó là dân có quốc tịch. Đang ở khu vườn nhà nó.

 Khi bận bịu nghĩ điều nầy. Dù mới đó mà một lần nữa Huy cũng thấy lạ khi có Uyên đứng chờ bên cạnh mình. Huy nhìn Quyên còn cô nàng thì nhìn cây lê, có vài chuyện khá vui diễn ra với Huy và cả Uyên trong thời gian qua. Cả nhóm đã quen mắt vì gần như lúc nào bên Huy cũng có Uyên. Mặc nhiên người ta cũng để Uyên ở chung phòng với Huy và cô họa sĩ người Ấn.

 Bây giờ tình cảnh đó với Huy thì đã đành nhưng Uyên thì hơi quái, Uyên tỉnh như con sáo làm như là về tới nhà mình. Thật sự Huy chỉ biết Uyên ở trong trường học và thư viện. Uyên hay thật, cô nàng có vài thẻ câu lạc bộ, khi vào trong đó đi vệ sinh, cô tắm nước nóng, ăn bánh mì, rồi ngủ trên chiếc ghế dài, không tốn tiền thuê nhà. Không chung phòng với ai.

xxx

 Ra mắt khách tới xem tranh. Một không gian là lạ, lần đầu tiên ở nơi có quá nhiều tiện nghi mà Huy mới biết. Tuy vậy trong lòng dạ cũng không thấy xa cách lắm, hầu hết các họa sĩ mới gặp phong thái không khác các họa sĩ khác, mà Huy thì đã ở trong nghề quá lâu. Cám ơn tổ nghiệp và bạn bè cám ơn những người yêu tranh. Điều dễ thương là Huy bán được vài bức chân dung. Phong cảnh phương Đông dưới mưa lạ mắt với người phương Tây.

 Nhờ vậy, và nhờ ở bên cạnh Uyên giỏi ngoại ngữ, Huy tự tin trả lời có vẻ hay hơn. Buổi giới thiệu tranh dù không lớn lắm đã thành công. Huy hào hứng khi nghe tiếng cười, và tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Hàng trăm người xem tranh trong không khí vui nhộn, nhưng đồng thời trong tích tắc tôi thoáng thấy nỗi buồn cũ. Lúc nào nghĩ như vậy thì Huy cũng thoáng thấy mắt Uyên nhìn về phía mình. Trong mắt Quyên tại sao chìm đắm một Nỗi buồn không màu sắc dù cho Quyên ở đây đã lâu. Cô người Ấn nói: màu đen và màu trắng vẫn là màu, của các màu khác. Như các làn đen trên thân con ngựa vằn. Khó biết trắng hay đen. Chữ nghĩa của họa sĩ khó giải thích.

 Chừng ngộ ra thì Huy chợt bâng khuâng. Thì ra là vậy, các nỗi buồn vẫn pha trộn, như bảng màu nhiêu khê. Huy đang ở xa ngôi nhà của mình. Hình như lúc nào, ít nhiều tôi cũng phải xa nhà. Cái nghề nghiệp lang bạt. Các bạn nghệ sĩ khác cười thấy không vui hẳn. Trong một chuyến đi Huy lại bắt gặp. Và hiểu được một nỗi buồn khác, chuyện trong nghề. Một nam họa sĩ chuyển đổi giới tính, đã thành danh, có nhiều cuộc triển lãm nổi tiếng, nói với người hâm mộ rằng mình rất buồn khi chia tay với người yêu, cũng là họa sĩ. Nữ họa sĩ như Uyên.

 Chia tay với lý do là mình không thể có con, thực tế là cả hai người không thể nào có con. Lúc vương vấn với ý tưởng đó Huy thấy Uyên từ ngoài sân bước vô khu nhà triển lãm, giữa vòng người. Mắt Huy cay cay. Huy lánh ra cửa sau như là muốn hút điếu thuốc. Trời lạnh. Khói thuốc cứ vẫn vơ Huy đứng nhìn suốt con đường dài dưới chân đồi, các cành cây và lá lúc nầy xem ra làm dáng. Mỗi cành trắng toát soi bóng dưới nước gần đóng băng. Một bức tranh vô tính, có vẽ hàng chợ không hay lắm. Những họa sĩ bạn, vai mang giá vẽ, họ trên đường tới khu trên đồi, lá vàng nâu rơi đầy chung quanh con đường. Trong vài người, có lẽ cũng không ít nỗi buồn… rất nghệ sĩ.

 Nếu như các bạn đó biết nữ họa sĩ tôi vừa kể sẽ suốt đời cô độc, có lẽ ai cũng buồn cho một kiếp người. Nhưng Uyên lại khác thường hơn họa sĩ chuyển đổi giới tính kia. Huy bần thần khi tan buổi đi dã ngoại, ngồi trong một quán ăn khuya, nỗi buồn càng đậm hơn khi nghe chuyện những con tằm nổi điên vì đã hầu như nhả hết tơ màu. Ngay buổi tối hôm đó vài họa sĩ phải đi cho kịp sáng mai về trường. Ngày hôm sau trên xe với vài người khác Huy lại buồn buồn vì nghe những tai nạn gần đây trên những tuyến đường trơn trượt vắng tanh. Các điểm dã ngoại cách xa trăm ngàn dặm cánh chim trời. Tuy nhiên mùa dã ngoại vừa qua cũng tạm tìm đủ kinh nghiệm. Và thời hạn phải trở về để học. Gói thuốc lá đã hết vèo từ khuya. Khi có vài ngụm rượu Uyên hút thuốc liên tục, nhưng ít khi mua.

xxx

 Uyên vẫn đứng chờ Huy mở khóa cổng vào khu vườn cây. Không hiểu sao Huy cứ thấy là lạ khi Uyên bước theo Huy, đáng lý là Uyên phải về đâu đó. Hay là Uyên nhờ Huy đưa về đâu đó. Thư viện hay các câu lạc bộ chẳng hạn. Uyên cứ đứng chờ Huy mở khóa cánh cửa lên căn phòng nhỏ trên gác. Huy vào trong thang gác tối, với tay bật đèn, đi lâu mới về căn phòng nhỏ lạnh toát. Huy nhìn vào bếp lạnh tanh, mọi thứ đều lạnh. Khi tới tấm màn che cửa kính Huy kéo qua một bên. Dưới kia là Uyên, vẫn còn đứng yên nhìn lên khung kính, bên cạnh một con mèo cũng nhìn lên Huy không nháy mắt.

xxx

 Uyên đi lên thang gác không nghe tiếng bật đèn. Rồi tối hôm đó Quyên vào bếp của Huy, mở tủ lạnh, lấy ra hộp thịt nguội, nhưng không mở bếp điện và không làm gì khác hơn là khui chai rượu cuối cùng. Với cái mở nút chai có mũi sắt vòng khoắn xuống nút bần. Chiếc lều vải của Quyên còn dưới chân thang gác. Căn phòng không có bàn và ghế. Quyên với Huy ngồi trên sàn, nhậu. Không có một điếu thuốc mà hút. Huy có cái ống vố cũ còn mùi thuốc làm bộ phì phà. Tới nửa đêm Quyên cởi hết quần lẫn áo, leo lên nằm trên người Huy, cái bụng lép và bầu vú lớn.

Bình thường thì Uyên lạnh tanh, khởi động chậm, còn đêm nay thì năng động kinh hồn, tất cả diễn ra trên chiếc giường lạnh còn lạnh. Một chai rượu chát rẻ tiền cũng ấm dần món xúc xích thịt nguội. Ngoài kia không có một tiếng động, tuyết đã ngừng rơi, gió cũng im tiếng thì thào. Lũ chuột Mỹ to con trên trần nhà chạy vào bếp, xuống cầu thang tối, một vài con kêu chít chít dưới chiếc giường gỗ kêu ken két. Chiếc giường cũ rệu Huy mua ở chợ một đồng.

 Sáng hôm sau Huy không thấy Quyên trên căn gác, ngoài vườn cây cũng không có Uyên, con mèo cũng không tới. Chiếc lều vải dưới chân thang cũng không còn. Chiếc ghế xích đu nằm yên một nơi trên bốn sợ xích sắt cũ mòn.

 Huy vẫn tới trường học Anh văn, chương trình miễn phí, vừa học vừa trồng cây kiểng. Có khi Huy vào thư viện nhưng không thấy Uyên. Về nhà Huy giăng chiếc võng ngồi dưới gốc cây lê, bây giờ đã sai trái. Huy ghi lại các phác thảo trên cái laptop máy tính xách tay cũ, thỉnh thoảng cả hai, cái laptop và Huy bỗng tự… tắt máy ngủ khò. Ánh nắng xuyên qua cành lê, ru Huy trong giấc ngủ say giữa trưa hè. Giấc mơ vui và những tình tiết mới. Huy thấy Uyên đang đứng nói chuyện trong một cuộc triển lãm tranh nào đó. Rồi hình như Huy quên hẳn Uyên và chuyến đi dã ngoại.

 Huy theo đuổi khá lâu một cuốn tuyển tập ký họa. Một số tranh than chì ghi vài cảnh đẹp hoang dã, Một vài thể hiện mới bằng màu sáp. Lần hồi suốt trong mùa hè, dưới gốc cây lê Huy đã tìm lại được nguồn cảm hứng sáng tác. Lần hồi Huy quen với nỗi buồn. Mà lạ lúc nầy khi nhìn thấy ai Huy không muốn tới gần. Rồi một buổi tối ngồi trên chiếc giường lạnh, đúng vào lúc Huy thấy lại cái vỏ chai rượu chát lăn lóc bên dưới gầm chiếc tủ đầy lon sơn và bụi, bỗng có điện thoại của Uyên. Đúng là Uyên với giọng nói không thể khác. Quyên cho biết Quyên đang ở một mình bên Úc. Trong ngôi nhà gỗ kiểu xưa không có cái bàn hay chiếc ghế nào.

 Huy đọc một bài báo thấy Quyên đang nổi tiếng với các bức tranh không giống ai. Nó là xác dừa trộn với bột màu ném vào khung vải. Hình như Quyên vẫn buồn vẫn hút thuốc lá, vẫn nhậu rượu chát, và đang giàu lên. Rủi thay, Uyên giàu lên để làm gì, lúc nào Uyên cũng không cần đến tiền, dù chỉ là mua bao thuốc cho mình. Huy cười, mình cũng đã quen sống một mình và quen với các loại buồn. Cuộc nói chuyện qua điện thoại với Uyên bây giờ có tính chất bạn bè. Như lúc trước, khi Uyên chưa tới, và chưa đứng chờ dưới khung cửa kính, vào cuối mùa đông năm sau, cũng trở về sau chuyến đi bán tranh, buổi chiều Huy rời khỏi chiếc giường, đi tới khung cửa kính nhìn xuống. Huy thấy ngôi nhà sơn trắng, cây lê màu xanh, còn tóc tôi thì cũng đã ngả sang màu muối nhiều hơn tiêu.

Tôi đã tới rồi ở lại đây hơn hai năm, bên kia con đường mà tôi quen tản bộ dạo quanh, gần một ngôi chùa mà tôi có tới vào dịp lễ. Thì mới đây, trước sau khoảng chưa đầy một tháng có hai người mà tôi cảm mến, bất chợt qua đời. Công việc với Uyên và bạn bè, người còn sống, và người lìa đời, không khác bất cứ chốn nào trên cõi tạm nầy.

Dưới bóng cây lê sai trái sau mùa đông khắc nghiệt, tôi chợt thấy mình có khác đi. Tôi lần hồi nhớ lại rồi mỉm cười. Thì ra mình đã có kỷ niệm với nơi nầy, dù ít nhưng cũng đủ vui buồn, nhất là với căn nhà và cây lê nhỏ. Không nên ngồi mãi trong nhà mà phải chạy vài vòng trong vườn cây vào buổi sáng rồi trò chuyện với cây lê.

Vài tháng nữa có lẽ là mùa đông lại tới. Tôi lên đường dã ngoại, trời thương mà người cũng thương vẫn còn có chút việc làm khuây khỏa trong thời khó khăn chung. Trước khi lên đường tôi lại ngồi dưới gốc cây lê. Tôi sẽ vẽ phong cảnh: Ngôi Nhà và Cây Lê ở Grand Prairie – thấp thoáng bóng ai đó đứng chờ nơi chiếc cổng vào khu vườn. Uyên bỏ đi sau sau đêm đó rồi lặn sâu một thời gian khá dài. Phần tôi, tôi gặp lại nữ họa sĩ người Ấn ở chợ một đồng. Mới biết chuyện dính dáng tới tôi. Uyên không muốn sinh đứa con của hộp thịt nguội và chai rượu chát mà tôi là đồng tác giả. Vào một đêm trời lạnh trước khi mùa hè tới. Dù cho nhiều mùa đông qua, tôi vẫn không ngăn được mình tới kéo tấm màn nhìn xuống tìm Uyên. Tiểu Quyên.

MẠC CAN