Nhà văn Mạc Can

Những bài viết về nhà văn Mạc Can

Miếng trầm cháy đỏ bay đi

  • Home
  • Miếng trầm cháy đỏ bay đi

Truyện của Mạc Can

Minh họa của Đặng Hồng Quân

Thôn Lý, ngôi nhà đất, mái lá bìa rừng xa khu chợ. Ai có chuyện thì giáp mặt nói, không có tiếng trống báo tin, chưa biết dùng chim bồ câu đưa thơ. Cảnh hoang dã lại có người đàn ông dữ tướng. Rậm râu, lưng vai và mu bàn tay có vẩy sừng cứng, lông ngực như con hầu. Người trong thôn ngại gặp vì sợ, nhất là ban đêm. Ông hầu phát sáng như lân tinh. Người ta sợ ông nhiều lẽ. Một là trẻ con khóc nhè, biếng ăn không ngủ, ông bà hay hù dọa:

Ông khỉ hầu kia kìa, nín khóc không, chịu ăn chưa. Ông khỉ bắt bỏ bị ăn thịt bây giờ.

Trẻ con nín khóc, chịu ăn chịu ngủ. Ông hầu được cám ơn.

Hai là trẻ con thấy ông dị tướng nhìn phát khóc lớn. Thì người ta xúm nhau hèo gậy xua đuổi ông ta như xua dịch hạch.

Đi đi ngay. Nhát con nít người ta hử. Đi không thì ăn đòn bây giờ.

Cũng là oan, ông nhát ai đâu, ông ít nói, hầu như không nói, chỉ cười. Khi cười người ta tưởng ông hù nhát. Mà ông có biết gì khi được khen. Liền đó thì bị đuổi, nhiều lúc làm một việc suy nghĩ chưa tận, vô tình gây hại, vì vậy mà đàng nào ông thiệt thòi, hối hận, ngồi khóc như con nít. Tên ông chỉ có một chữ Tam cục mịch.

Tam làm nghề cực khổ, ngậm ngải tìm trầm tìm quế nuôi thân. Còn phải xăm mình như con tắc kè, chỉ để đi rừng, tà ma vô hình, hữu hình, và hồn quỷ sài lang già thích hiện thành người nầy người khác, khỏi trêu chọc, không quấy rầy. Nhưng gần nửa đời chưa bao giờ Tam thấy tận mắt trầm hương, chỉ thấy quế chi.

 Tìm được quế rồi thì mừng lắm, song dù quế chi có quý, thì bọn con buôn đầu nậu, chuyên thu mua quế cũng khéo lời nói với Tam rằng quế ấy rẻ mạt. Thôi chết cất công lặn lội vậy mà hái quế củi, tội nghiệp chưa. Lái quế kéo giá rẻ thúi. Tam đói vẫn đói.

 Nhân tiện thường vô rừng. Tam thêm việc tìm hái thuốc quý với ý tốt giúp người nan y. Tam tướng mạo gần như người vượn nguyên thủy, trán thấp, lông mày chổi xể, môi mỏng, răng vẩu, mũi lại hỉnh. Vào rừng muông thú cũng có khi nhận là đồng loại, là con khỉ đột, nên gọi Tam Hầu Vương, trêu chọc ông là Vua khỉ. Một hôm có đạo sĩ vãng lai ngang qua thôn, ngẩn ngơ nhìn Tam Hầu chắc lưỡi: người này về sau sẽ là vua một cõi, nhân đức, nhưng không lâu, thật tiếc. Tam cho rằng đạo sĩ trêu chọc mình, vì mình xấu xí. Tam ngồi bệt xuống đất khóc ròng. Đạo sĩ lại gật gù bỏ đi.

Tam Hầu không săn giết thú rừng. Trong rừng Tam Hầu đêm nằm trên cây lớn, chỉ bỏ ngải quanh gốc, tránh rắn rết nhện độc, chồn cáo, kiến ăn thịt người. Cốt là ngăn cho loài này không tới thôi, vì Tam có tật ngủ say như con nít. Tam hầu như không giết một con trùng, con dế nào. Quanh năm Tam ăn cải xanh, cải đắng, trái khổ qua, bẹ chuối, măng rừng mà sống khỏe. Tam nghèo mà không bệnh, còn hơn kẻ giàu có như quan huyện, trưởng thôn. Ăn bát vàng có tỳ thiếp bưng đút mà vẫn xanh xao, èo uột, mặt bủng môi chì. Quan huyện và trưởng thôn, tay chân của y ngầm ganh ghét Tam Hầu vô cớ. ấy là tâm địa của kẻ tiểu nhân, bất tài tham ô. Nhưng ở bậc cao, ăn trên ngồi trước, tai to mặt lớn, xe cộ xênh xang, trống kèn lễ nhạc, khinh người hợm của. Đạo sĩ thấy Tam thì gật gù khen, còn thấy quan huyện kênh kiệu trên đường thì có vẻ giận dữ, là điều khó biết trước tại sao.

Tam Hầu đi rừng, cô thân lầm lũi, đi hoài mà không gặp trầm hương. Ngậm ngải lâu ngày lậm ngải. Da thịt dung mạo thâm mốc giống người rừng. Một hôm trời gần sáng, như con tắc kè đang nằm trên cây lớn, người không tinh mắt khó nhìn ra, vì Tam ẩn hiện không khác màu lá, vỏ cây. Sương muối trong núi xông ra mờ mịt, bỗng Tam Hầu nghe tiếng hú dài của một con sài lang con, nhìn xuống từ trên cao Tam thấy nó bị gấu lớn trững giỡn, vật lên quật xuống mềm nhũn gần chết. Tam Hầu lực lưỡng nhảy xuống, nói chuyện với gấu đuổi gấu đi. Gấu đi nhưng trở lại tìm con sài lang lại vật. Tam hầu vương leo trèo giỏi nên bồng giấu sài lang trên ngọn cây. Gấu giận dữ móc cặp móng vuốt vào thân cây, thoăn thoắt leo lên tát Tam bị thương, và muốn giết Tam. Buộc lòng Tam phải chống trả. Gấu té vào cây giáo nhọn của Tam Hầu để dưới đất mà chết. Tam Hầu khóc mùi mẫn. Trong lòng hối hận vì để cây giáo trở ngọn vô tình giết gấu. Từ đó vất mất cây giáo không xài, dù cho trước mắt có con vật nguy hiểm, hay bị kẻ khác tấn công.

Suy cho cùng thì gấu cũng đã chết rồi. Tam tiếc nên xin mổ mật, lấy da và nanh gấu. Chôn thịt gấu xuống đất, lấy đá lớn dằn lên, nhưng đất đá cứ như trồi sụt không yên. Tam dằn đá là có ý không cho chồn cáo moi lên ăn thịt gấu. Nhưng gấu chưa bằng lòng. Lúc Tam vái mộ gấu Tam khấn:

“Gấu chết cũng nên giúp nội tạng cho người bệnh, nhân đức, gấu dễ đầu thai làm người”.

Tam khấn xong, mộ gấu không còn đất đá sụt lở. Tam chân đất đạp lá đạp gai bỏ đi mà không biết có sài lang con luẩn quẩn lết theo.

Đêm sau, Tam Hầu lại treo mình trên cây lớn khác, sương muối cũng dầy đặc, một thước trước mắt khó thấy gì. Tam lắng tai thì mới nghe tiếng một bầy sài lang, cùng lúc cứ hú dài, thê thảm, những đôi mắt xanh sáng như lửa địa ngục của bầy sài lang già lấp lóe, giăng lưới chung quanh Tam Hầu. Càng lúc càng siết chặt, dưới gốc cây đã thấy ẩn hiện mù sương bầy sài nhe nanh. Sài lang khát máu, mưu mẹo, lại bầy đàn đông, có máu là say giết, trâu rừng heo trăn nai voi cọp, nanh cong nhọn, và gấu móng vuốt bén gót còn phải sợ. Tam cứ ở tuốt trên ngọn cây cao với sài con. Không biết lũ sài già đòi con. Nửa đêm mưa lớn, sấm sét lại đánh cháy ngọn cây, nhờ vậy lũ sài lang rừng chạy cong đuôi. Trời thương cứu Tam Hầu thoát chết vì nanh gút sài. Hóa ra sấm sét vì tán lá âm u của cây “bá’ cổ thụ. Cây này đã sống ngàn năm, có khí âm dương, hội tụ có trầm hương quý, hương liệu có thể trị bách bệnh.

Lửa bén cháy cây và Tam Hầu cũng bị phỏng một chút. Lần đầu tiên trong nghề tìm trầm, Tam Hầu thấy tận mắt một khối trầm hương lớn. Có thể giá ngàn lạng vàng. Nhưng Tam vốn không tham lam, chỉ chắp tay cảm ơn trời, gỡ lấy một ít trầm bỏ vào nải. Tam Hầu cẩn thận, bẻ lá, gạch những thân cây làm dấu, cứ một khoảng lại làm dấu những thân cây khác, bỏ lại những hòn sỏi trên đường, dưới suối khi đi vội. Suốt đêm chạy đi không ngủ. Vì kinh nghiệm, nếu ai tìm được trầm hương thì dù người hiền dữ, thế nào rồi sấm sét cũng theo đánh đủ ba bận trừ căn. Đánh xong, không chết mới qua tai ương. Sau đó coi như là vượt hạn, có đi trong mưa giữa cánh đồng, hay ẩn núp giữa tán lá rậm, cây cao, sét cũng không đánh nữa, và sau một trăm ngày tới cũng khó có thương tật gì làm cho phải chết.

Có câu chuyện người ta hay nói. Trời (sét) đánh không chết. Nhất là kỳ khôi cãi cha mắng mẹ, là quan huyện. Hai là người nhân đức tới nỗi Thiên Lôi cũng nể là Tam Hầu Vương. Hai người nầy nhiều dịp đối mặt xem ai sẽ chết trước.

Tam không treo mình trên cây ngủ đêm, vì tán cây rậm thế nào sét cũng đánh. Tam vào sâu một ngách núi, cột chắc mình bằng dây song mây, tự ép dán mình trên thạch nhũ, ngủ, bên ngoài mưa rừng tầm tã, lạnh xám trời đất, lá cây, lá cây hòn đá sấm sét bùng lên. Từ trên trời sét như một cái vòi con bạch tuộc, nhưng đen ngòm hơi nước, ngoằn ngoèo, đánh ngã ba ngọn cây gần Tam. Tan nát vách đá, ở trong có Tam. Đàn dơi núi hoảng hồn bay ra khỏi hang la chí chóe. Tam quỳ xuống cám ơn Thiên Lôi đã đánh xong ba búa tầm sét xá tội lớn. Tội tày trời vì dám nhìn thấy trầm hương. Chạy vội không ăn cho nên Tam Hầu quá mệt, quên bỏ ngải chung quanh ngách núi trừ chồn, kiến ăn thịt người và nhện độc.

Tam Hầu ngủ say như em bé, ngáy lớn trong hang núi. Kiến ăn thịt người khiếp đảm không dám tới. Nhưng bầy khỉ thì không sợ, đáng lý giúp Tam Hầu nhưng lại phá Tam Hầu cho vui. Tam Hầu không hay bầy khỉ rừng lí lắc tháo dây, mang Tam Hầu vương bỏ vô hang nơi con trăn lớn bằng gốc cây, lớn tới hai người ôm không giáp. Con trăn bò trường vải cứng làm xây xát cả đá núi, con trăn quấn chặt Tam Hầu, xương của Tam Hầu đã kêu răng rắc, ruột gan trong bụng muốn lòi ra miệng, Tam không thở được, mặt tái xanh, thè lưỡi dài, đứt hơi gần chết. Bỗng thấy sài lang con lết vào hang con trăn, nó cũng đã kiệt sức vì móng gấu tát sém đứt cổ, máu ra nhiều. Nhưng lạ thường, con sài nhỏ cứ lết đái vòng chung quanh con trăn lớn mà không làm gì khác. Tưởng như Tam hầu mất mạng vì trăn quấn. Nhưng con trăn thè lưỡi ra, đưa lưỡi vô, thở phì phì một lúc. Ngửi nhằm nước đái chua hơn dấm nuôi của sài lang. Nó bỗng lim dim ngủ gật, vật đầu xuống đá cứng bất tỉnh, cơ bắp trăn buông lỏng Tam Hầu. Xương cốt Tam giờ mới hết kêu. Tam lại nghe nhiều mảnh xương vụn, gãy rời của mình nói với nhau:

“Đây nè, nối vô đây. Không phải, chỗ này nè, nối vô coi”.

Lần hồi khớp này nối lần các khớp khác như cũ. Tưởng con trăn ngủ luôn chợt nó tỉnh lại, sài lại đái vô mắt và miệng nó. Trăn càng ngủ rồi say ngủ cho tới chết.  Tiếc vì da xương và trái tim trăn là vị thuốc hiếm quý như xương mật gấu, Tam lột lấy da trăn cuộn lại, phơi sương, phơi nắng trên ngọn cây cao bảy ngày trong rừng sâu. Dùng chính xương và vài vảy trăn tán nhỏ đốt pha dầu trầm hương thoa vào cổ con sài lang, máu không còn chảy, vết thương khô.

Tam Hầu đem mọi thứ về nhà, định nấu cao chữa thấp khớp, hay chảy máu. Không có ý định bán cao lấy tiền, chỉ bán chút trầm đong gạo. Từ trong rừng đường về ròng rã nhiều ngày đêm Tam Hầu dùng dây song mây đan thành cái giỏ, bỏ sài lang con vô giỏ, ngày đêm cõng, thoa thuốc, đút cho sài ăn măng rừng, uống nước suối trong. Chừng tới ngưỡng cửa ngôi nhà vách đất của Tam, mới bỏ cái giỏ song mây xuống. Con sài tội nghiệp tưởng chết rồi lại nhảy tưng tưng mừng, quẫy đuôi liếm tay Tam Hầu, con mắt sài lang như biết nói lời cám ơn. Miệng tru nhỏ dễ thương, nhưng nanh thì quá dài và nhọn. Thỉnh thoảng cũng còn thú tính, bản năng quen tranh chấp ở rừng, rượt bắt lũ chuột thỏ ăn thịt, sài hung dữ chạy phá nương bắp của người ta.

Cám cảnh sài lang cứu mình. Có cái khôn là sài biết chỉ có vảy trăn và xương của nó mới làm hết chảy máu, cho nên sài cứu Tam Hầu, rồi Tam mới chữa bệnh cho nó. Tam Hầu mang con sài về nhà, cho sài ăn ngải, trị vết thương cho thật lành, thuần dưỡng, lại cố dạy không cho ăn thịt, mà ăn cải măng như Tam. Sài lang chịu không thấu vì không có thịt, ốm tới nỗi gần chết. Rồi cũng từ từ quen vì nhà Tam không lúc nào có thịt, con thỏ chuột sợ sài cũng chạy mất. Sài sống trở lại bằng rau củ, măng cải. Bỗng hiền như vị tu tiên. Sài biết mình sống cũng nhờ Tam, thọ ơn Tam cứu nó khỏi nanh hàm gấu. Cho nên sài lang trả ơn bằng nhiều cách, chăm sóc Tam một lòng, thay chó giữ nhà Tam Hầu. Tận tụy sớm hôm.

Nhưng bầy sài lang rừng, mỗi tối kéo tới quanh nhà Tam Hầu, mắt lang sói xanh sáng như ánh sao, chúng cứ tru dài trong đêm tới sáng, muốn đòi lại lang con. Một đêm sáng trăng ai cũng thấy lang con chạy ra bìa rừng với đàn bầy lang sói. Những con sài già bao quanh sài con. Chúng nhe răng dữ tợn, hai bên cứ ngước mõm lên mặt trăng non, tru dài cho tới trăng lặn. Một lúc sau sài con lại tru lên thảm thiết, rồi cụp đuôi cúi mặt, nhìn xuống đất trở về nhà Tam Hầu. Từ đó không thấy bầy lang sói già trở lại đòi lang con nữa.

Ai cũng biết giống sài lang dã man bất trắc vô định. Nhưng con sài ở nhà Tam Hầu như con chó nhà, lại có nghĩa. Cả thôn xóm gần xa, ai cũng biết nhờ sài lang con mà thú khác như lũ chồn không dám tới bắt gà của dân. Con voi cũng ngại không phá mía, con cọp, con beo cũng nể, ít bén mảng tới thôn lý. Cọp chỉ bắt bò heo của thôn khác.

Tam Hầu quen đi và sống ở trong rừng. Cho nên nhà Tam ở bìa thôn Lý cũng cất ở trên cây lớn, chung quanh nhà là khu rừng cây nhỏ rậm rạp, nào là giống hoa lạ, cung vua cũng hiếm thấy. Cây mận, cây nhãn sai trái. Chim muông đi một chân. Tam ngày đêm bó thuốc cho cọp con. Tam cũng có đem về một con khỉ nhỏ. Mới về tới nhà khỉ con đã bị cọp con vồ cho một phát. Khỉ nhảy tưng la chí chóe. Sài lang bênh khỉ con rượt cọp con náo động, lúc đó Tam Hầu đang đói bụng, mà trong người không khỏe, bực dọc dùng cây đánh sài lang một phát. Sài còn bản năng thú tính, bất ngờ bị đánh đau, nhớ lại nhe răng chực xốc cắn Tam Hầu. Nhưng trong máu không còn chất thịt mà chỉ là rau củ. Sài lang con nhủi xuống sàn nhà, mắt rơm rớm khóc. Nhưng không dám giận Tam Hầu. Từ đó Tam Hầu vất cây roi để ngăn mình có khi vì đói bụng mệt mỏi, không kịp suy nghĩ mà đánh chúng tội nghiệp. Cho hay con kiến nhỏ bé mà dí chúng vào tay, vào đường cùng cũng bị chúng cắn lại là vậy. Cọp, khỉ, sài lang là bạn thân với nhau. Cọp không vồ khỉ, khỉ không trêu chọc cọp, còn sài lang thì đùa giỡn với cả hai.

Tối tối sài lang vẫn nằm trước sân, nghếch mõm giữ nhà, con khỉ nhảy lên lưng sài lang bắt chí. Cọp con cũng nằm bên cạnh khỉ và sài lang lim dim ngủ. Bỗng sài lang tru dài làm cho Tam Hầu thức giấc nhìn ra bìa rừng. Một bầy gấu và lũ trăn lớn tìm ra nhà Tam Hầu, chung quanh là bầy sài lang già. Cứ như vậy nhiều đêm liền cho tới khi dân trong huyện đốt lửa xua chúng đi mới tạm yên. Mỗi buổi sáng hoặc chiều, Tam cho sài lang ngậm chút bạc vụn và tờ giấy viết chữ, sài lang chạy đi chợ thôn Lý mua muối mua cải mặn, mua chút rượu đựng trong cái cút nhỏ. Người bán vội bỏ trong cái giỏ tre, mang dưới cổ sài, sài tha về nhà Tam. Có khi đêm khuya ngậm ngải trầm thuốc, hai thầy trò lặn lội trong gió mưa, đi chữa bệnh cứu người.

Lúc đầu người ta thấy con sài lang nanh nhọn, mắt khi đỏ khi xanh, lưỡi dài, mà sài vốn có tiếng phản trắc, ma quái, cả chợ hoảng hồn. Nhưng ngày qua ngày nhìn quen mắt, cũng chẳng thấy gì xảy ra trầm trọng. Như người ta nói xấu về giống sài. Mặc dù trước đây nó có phá nương bắp. Nhưng đánh người chạy đi ai đánh người chạy lại. Lâu dần nhìn con sài vui vẻ, chạy lon ton từ bìa rừng con suối ra, thấy con sài đi chợ ai cũng cười nhìn theo thú vị. Biết là… chó nuôi nhà, khôn, hiền, cận vệ của Tam Hầu Vương. Vua khỉ.

Quan huyện lại ganh tỵ. Vì mấy con chó ngoại mập ú, ngu đần của mình, chó nhà quan canh cửa lạ kỳ. Không sủa. Không cắn người ngoài, hay là đạo chích, kẻ gian như quan muốn. Một đêm thanh vắng quan lấm lét giả trang, mắt ngó trước ngó sau, đi xuống cuối thôn khám điền thổ mụ vợ của tay bán thịt chó. Cả hai hẹn nhau ngoài cây rơm, sau nhà mụ vợ. Còn thằng chồng mụ say mèm ngủ ngáy ngư bễ lò rèn.

Quan không biết lũ chó của mình thè lưỡi. Không sủa, nhẹ nhàng chạy bén gót theo quan. Đang lúc cao trào đê mê với mụ vợ hôi hành ở nệm rơm, bỗng quan giật mình nghe tiếng chó sủa quan dậy làng sập đất. Quan lại tưởng đâu chó nhà của nhà dân, chó thường thính mũi ngửi thấy mùi kẻ trộm. Không hề, chúng là chó quan, đồng loạt sủa rượt cắn cái mông đít trần, hai mông mập ú to bè của chính quan lớn. Nó rượt quan chạy dài về tới cửa quan. Sai nha trong dinh chạy ra, trông thấy quan bị chó quan và chó dân rượt. Sai nha cũng làm bộ không biết mô tê. Quan thì chạy đầu đằng trước không có ai. Quan la làng kêu trộm. Biết tỏng là quan giả trang, bọn sai nha làm như không biết, tranh tối tranh sáng hỗn quân hỗn quan. Lộn xộn vậy, quất cho quan mấy hèo què chân. Quan bị lính cột lại đá đít dẫn về dinh. Quan bà nghe động ra cổng nhìn thấy, biết ngay quan nhà đi khám điền thổ, bèn làm lơ không nhìn ra chồng, còn biểu sai nha đập thêm vào mông, nhổ hàm râu dê. Xong rồi quan bà mới làm bộ la lên:

Ủa, hóa ra là quan lớn nhà tôi mà tội nghiệp chưa!

Dân chợ nhà giàu, phú hộ, gian thương, phe với quan, khen quan:

Quan huyện nhà thanh liêm lại biết lo cho dân. Đêm hôm đích thân tuần tra, lại gan dạ chạy hàng đầu, không ngại nguy hiểm la bắt trộm.

Nhưng dân nghèo khố rách ốm ôm thì che miệng cười ruồi, nói nhỏ:

Hồi khuya canh ba, dân chúng nghe động vác hèo chạy theo lũ chó quan. Thấy quan bận quần trễ xuống đít miệng la “trộm… trộm” là tưởng có trộm thật. Đó là quan bị bắt tại trận “cẩu dâm” với vợ người hàng thịt chó. Quan cả thẹn ra cái mẹo xưa, la “trộm… trộm”.

Có người che miệng nói nhỏ hơn:

Đừng nói lớn, đó là kế của thằng chồng con mụ bán thịt chó. Vì ghét cái tánh quan to mà kẹo kéo, cứ cho sai nha xuống quán lựa thịt ngon, rượu thuốc bổ cầm về cho quan mà không bao giờ trả bạc. Anh chồng mụ ta cho mụ liếc mắt đưa tình với quan, quan tưởng bở rúc vào đùi mụ nơi ổ rơm tằng tẹo. Có cớ cho anh chồng vác hèo đập quan te tua.

Cả tháng trời quan nín thinh, thậm chí không ra xử án, vì lo thang thuốc cho cái mông, vì lo uống thuốc ngừa bệnh chó dại. Và lo bệnh hoa liễu phong tình mụ vợ tay bán thịt sang cho. Vì những con chó ngu của mình, vì quan huyện nghe thêm lời ong tiếng ve của trưởng thôn. Vì trưởng thôn điều tra, biết tỏng chủ quán thịt chó dùng vợ làm nhân kế. Quan huyện mặt tái môi thâm bàn tán bày mưu, vu cho quán thịt chó không kiểm dịch, dán tem vào con vật làm thức ăn là mấy con chó ghẻ, gây ô nhiễm thiếu vệ sinh phòng dịch trong mùa… chó cúm. Lại còn bán rượu trốn thuế cho nên biểu sai nha bắt tay chủ quán thịt chó, và mụ vợ đóng gông, nện cho mỗi đứa trăm hèo. Nhốt khám, in dấu sắt nung thích chữ lên trán, đày đi đảo Ô Qua.

Không chỉ triệt vợ chồng mụ bán thịt chó rồi nguôi, quan càng tỵ hiềm với Tam Hầu vì con chó ngoan là sài lang, mà chính Tam cũng không hay biết. Bao giờ đi rừng tìm ngải thuốc ngỡ trầm Tam Hầu cũng đem sài đi theo, chí tình như cha con, tuy chỉ là một người đi rừng nghèo cô độc và một con sài hoang đau lòng rời bỏ bầy đàn, vì nghĩa mà tìm về với người.

Thấm thoát qua nhiều năm. Mùa xuân rồi thu, hoa nở lại tàn. Tam Hầu đầu tóc bạc phếu, có khi lụm cụm trở lại cây lớn, có ghi dấu gỡ chút trầm độ thân. Không lấy nhiều, không ham bán cho được nhiều bạc. Những thợ rừng tìm trầm khác lần dò theo dấu Tam. Họ cũng ngủ treo trên cây, nhưng không lấy được trầm, mà có người bị sét đánh cháy chết. Có người bị gấu rắn tát cuộn giết chết. Bị lũ sài lang trong rừng và diều hâu rỉa nát thịt. Kiến ăn thịt người xéo qua chẳng còn chút xương.

Có tiếng đồn xấu về Tam. Cho rằng Tam tham trầm giữ của, nên giết bạn nghề tìm trầm. Tin đồn nầy vô hình trung tạo lý do cho Tam phải lên quan xét xử. Tam Hầu hiền lành thật thà, không biết ấy là mẹo của quan, quan thâm ý muốn hại Tam chết, để y một mình lấy hết trầm hương trên cây bá trong rừng.

 Quan huyện là người không muốn thấy ai hơn mình. Tam càng ít nói quan càng cho đánh nhiều. Chịu không thấu đòn roi. Tam nói thật nơi ghi dấu gốc cây. Quan càng sai chúa ngục đánh dữ cho Tam mau chết. Đã oan nhưng không được giải, mà Tam còn bị người đời môi mép nói cho oan thêm. Vì mấy người nầy thấy Tam tướng dữ, râu ria. Do không ở gần nên không biết tánh. Trong tửu quán trà đình, bọn say xỉn cứ kháo nhau là Tam nhất định có giết người. Chỉ vì tướng mạo trời cho xấu, chỉ vì trời cho nghèo mà lương thiện. Cũng có kẻ cho Tam là đạo đức giả, ghét Tam.

Tam chết, sai nha theo lệnh quan. Đêm tối trời bỏ thây Tam xuống dưới suối bìa rừng. Sáng lại không thấy xác Tam. Có lẽ Tam bị bọn sài lang già trong rừng ăn thịt rồi. Bèn tâu:

Bẩm quan. Tam Hầu bị diều hâu, chồn cáo, sài lang già rỉa thây rồi.

Quan mừng trong bụng, từ nay không ai ngoài quan là chủ cây trầm hương. Nhưng còn nghi. Bèn cho nhóm sai nha đi vào rừng, tới tận chỗ tra cứu. Nó là một cây “bá” lớn, nhiều năm chịu phong ba sương gió, sấm sét cho nên hội tụ nhiều vảy màng cây, màu vàng nghệ, màu trắng bạc rất hiếm quý, tỏa mùi hương thơm ngát gọi là trầm hương. Sai nha leo lên định gỡ trầm, bỗng hốt hoảng la hét, đứa thì té xuống từ cây cao, chết tốt, đứa thì lăng xăng tuột được xuống đất, ù té chạy về hớt hải thưa bẩm quan:

Bẩm… Tam Hầu nằm khèo. Rung đùi trên cây trầm.

Quan huyện nổi cáu:

Sao? đánh như vậy mà nó không chết?

Y không biết Tam Hầu Vương hiền lành, đã được Thiên Lôi miễn trừ, đánh đủ ba búa tầm sét, giờ thì khó có gì làm cho Tam phải chết. Trừ khi nào… gặp mưu độc.

Dạ bẩm quan. Con không biết, nhưng mà con trông thấy Tam Hầu. Y nằm vắt vẻo trên cây trầm… uống trà.

Quan nọc tên sai nha đó ra, đánh trăm hèo vào mông. Nó vẫn nói thấy Tam Hầu nằm thoải mái trên cái võng dây rừng, nhẩn nha uống trà đọc sách. Quan cho nhốt tên nầy lại, thủ tiêu, sai một nhóm sai nha khác, đang đêm băng rừng lội suối. Đi cho tới chỗ cây trầm, coi có phải Tam Hầu trên đó không, rồi về bẩm báo ngọn nguồn. Đám sai nha mới vừa đi vừa run trong mưa lạnh, lầm bầm chưởi quan huyện.

Sao ổng không chịu đi mà sai tui.

Ổng là quan chứ bộ.

Ờ tui quên.

Cái tên sai nha nầy cùng mấy tên sai nha hề khác. Theo dòng suối nhỏ, nơi chúng nó vất thây Tam Hầu xuống lúc nọ, lần khân cũng tới tới, bờ suối bên kia là cây “bá” lớn gọi là cây trầm hương tinh. Đêm trăng sáng trong rừng cây hương trầm bát ngát. Chúng nó thấy một con sài lang lớn, một con khỉ lí lắc, và một ông cọp trẻ oai vệ, ngồi dưới gốc cây trầm hương tinh, trên mấy phiến đá làm ghế, cái phiến cẩm thạch to làm bàn. Trên bàn có bàn cờ tướng, những quân cờ cũng bằng kim cương đá quý.

 Bình trà nhỏ và bốn cái chun hột mít màu gan gà tỏa khói trắng. Khỉ chạy đi múc nước suối trong, đun than hồng nấu nước sôi. Cọp khệ nệ pha trà, tấm tắc ngửi mùi trà khoái trá gầm lớn. Tam Hầu thưởng trà và đánh cờ với con sài lang. Nói lời đùa vui với bạn khỉ cọp. Bình yên như bằng hữu anh em. Thật ra ngoài rừng, và ngoài đời, chưa có cảnh nào cảm động và hay bằng. Chúa rừng Phi châu người da trắng, là ngài Tazan cũng phải ganh tỵ.

Về thôi. Thấy đúng yêu cầu của quan huyện rồi.

Một sai nha nói:

Đúng yêu cầu là sao thằng khùng?

Sai nha kia hỏi gắt gao, tên kia đáp:

Là quan biểu vô rừng nhìn lên cây. Coi có phải Tam Hầu uống trà không. Thấy đúng rồi thì về nhà thôi con ạ.

Ngu không chừa cho ai ngu. Cái thằng nầy hay quên thật chứ. Mầy mà về báo quan. Con trông thấy Tam Hầu uống trà thì mạng mầy đi đứt rồi thằng kia. Quan của mình thấy ai thảnh thơi hơn ổng là khó chịu. Chúng em không dại gì mà về, ở lại đây hay lên núi kia trồng trọt mà sống. Đợi cho nguội chuyện lén về đem vợ con lên theo, lên non lập nghiệp mới. Còn nơi nào sống vui tới nỗi con cọp có tiếng hung dữ cũng hỉnh mũi thưởng trà hử.

Mười ba đứa trong bọn sai nha thừa phái lại. Nửa đêm ứa nước mắt, nhìn ánh lửa đốt sáng ấm trong đêm trường. Suy nghĩ về phận tép riu của mình, làm nô lệ hoài mà không có ngày nào yên ổn, ấm no. Nay tình cờ đi tìm Tam Hầu, thấy tận mắt cảnh tình không xung đột. Không ai mưu kế hại nhau như chốn quan trường. Và một chuyện mê tín là tiếng đồn trong dân gian lan truyền Tam Hầu Vương người nhà trời. Thiên lôi đánh ba búa không chết. Trăn quỷ quấn không chết. Tam Hầu Vương mình đồng da sắt đang khởi binh chống quan huyện tham ô. Cho nên đám sai nha đồng lòng lui vào núi, cạnh nơi Tam Hầu cư ngụ, phát nương làm rẫy chờ ngày về rước vợ con khẩn hoang làm lại cuộc đời. Duy chỉ một tên mặt thỏ mỏ dơi là âm thầm rút lui, y còn lấy đá đánh vào môi, vào mặt vào mắt, cho sưng vù lên. Đạp gai cho chân chảy máu, chạy về khóc bẩm với quan huyện:

Thậm chí nguy, lũ sai nha làm phản. Theo Tam Hầu Vương dấy loạn. Con kháng cự. Chúng nó bắt trói con đánh đập tàn nhẫn vầy, mà còn nói xấu quan huyện và trưởng thôn là đồ thối tha tham nhũng…

Quan huyện triệu trưởng thôn tới ra lệnh:

Đem ngàn quân, cung tên giáo mác đầy đủ, bao vây cây trầm hương. Bắt sống Tam Hầu về đây cho ta thiêu sống nó.

Quan chỉ ra lệnh, không dám đích thân cầm quân vì sợ hùm beo, gấu cọp. Ngại lũ kiến rừng chuyên ăn thịt người. Gà theo gà, vịt là vịt, còn phượng hoàng không phải gà vịt.

Bầy sài lang già trong rừng, quen sống tranh chấp, vốn mưu mẹo, theo phe quan huyện và trưởng thôn, một hôm con sài lang già nhất, miệng mép lở lói, mắt mũi lèm bèm niệm chú gây ra một luồng khói khó ngửi. Khói tan sài hiện ra một người râu xanh, mắt xám. Hai bàn tay móng vuốt, vẫn không hóa cái gì khác được, cho nên cho vô ống tay áo. Rõ ràng, trước mắt mọi người đây là một mưu sĩ, tuy có vẻ nghênh ngang, nhưng chắc là tài. Tài chuyên bàn mưu bán công, bày chuyện kích động thích khách, từ đâu lang bạt tới đây. Người tài thì cao ngạo. Mưu sĩ đứng coi tờ cáo của quan huyện về việc trưng binh trừ Tam Hầu Vương, ông sài cười ha hả giữa chợ đông, rủa xả quan huyện dốt mà ngu.

Quan huyện đâu ra ta hỏi chuyện.

Lính lác thấy quái nhân cũng e dè, chỉ quay vòng, không dám tuốt gươm, chỉ rình coi chừng. Quan nghe lính bẩm không dám ra. Sai trưởng thôn, ông nầy râu ria như chốt, lấp ló sau cổng huyện. Sài mưu sĩ càng nổi giận. Trưởng thôn vòng tay ra rước. Trong đêm quan huyện và trưởng thôn cung kính nghe sài mưu sĩ. Sài vuốt râu lim dim mắt bày kế độc. Như vầy… như vầy… và cứ như vầy…

Sài mưu sĩ tru dài. Đó là ông ta cười đắc ý về mưu sâu của mình là đồng minh của quan huyện và bầy gấu rừng hung hãn. Nhằm giành lấy sài lang con về lại với bầy đàn. Còn gấu thì trả thù việc Tam Hầu để cho ngọn giáo giết gấu lang. Tức chồng của mụ gấu nái xấu tánh. Tam lấy mật gấu và xương nấu cao. Ấy là muốn giúp người, mà bây giờ phải mắc oán. Thế mới hay, có khi làm những việc tốt, mà lại thiệt hại cho người, hay vật khác cũng đủ gây oán.

Một ngàn sai nha mang giáp da trâu rừng, cung tên bắn khó chết. Mang giáo dài, mang lưới sắt. ấy là khinh binh. Còn mấy đội sai nha khác, khoảng vài chục người chọn lọc, mang chân vịt, lội nước theo đường con suối tiến vào rừng sâu ấy là thủy binh. Đội hỏa binh, mang gươm ngắn, dầu chai, dầu hôi, bùi nhùi và tên lửa cũng tiến, nhưng phía ngược lại vào rừng. Nhiều cánh quân nhỏ hơn, chục người một nhóm gọi là trinh thám, đi vào trước, leo lên cây cao, đào hầm ngầm chung quanh cây trầm hương. Như vậy không còn ngả nào cho Tam Hầu Vương chạy thoát. Ngoài người quân của quan huyện còn có những bầy lang sói, gấu và những con trăn thoăn thoắt cuốn nhanh phóng tới trước.
 

Minh họa của Đặng Hồng Quân

Nhưng một ngàn sai nha hùng hổ tiến vào rừng, tới nơi chỉ còn không tới một nửa. Tên sai nha mặt thỏ mỏ dơi nịnh hót quan huyện được phong làm chỉ huy một toán la hét: 
Ông mà tìm được chúng mầy là tiêu đời nghe chưa.

Hơn bảy trăm sai nha bỏ ngũ mang theo gươm giáo, tiến lên. Nhưng đi nhanh về phía núi. Nơi có những căn trại và nương bắp, vườn khoai, ruộng lúa bậc thang của các sai nha đi tìm cây trầm hương không về báo bẩm. Họ ở lại núi theo Tam Hầu Vương. Cộng với những sai nha mới tới, quân của Tam Hầu Vương gần số ngàn. Còn có voi rừng, trâu nước, cọp beo, khỉ và nhiều đếm không hết những bầy chim bay trên cao trinh sát. Có những chú diều hâu mỏ cong nhọn, chực bổ xuống đầu quân của quan huyện và trưởng thôn. Về thế trận thì mưu sĩ có lợi hơn quân Tam Hầu. Về quân thì Tam Hầu được hỗ trợ, nhiều cánh quân, trên trời dưới nước, như chim muông thậm chí là cá. Nếu như muốn đánh Tam Hầu sẽ thắng lớn, chỉ trong một ngày quân của Tam đã vào trong thành huyện lý. Nhưng Tam không muốn đánh, giao tranh thì phải có người chết, mà chết vì ai, vì cái gì.

Đêm trong rừng mờ sương, một thước trước mắt cũng không thấy gì. Tam Hầu không vui vì khi buộc phải dùng binh khí, và việc chiến tranh:

Sẽ rút hết lên núi các bạn nghĩ sao.

Cọp con nay đã lớn, tướng chỉ huy ngàn con cọp khác. Cọp gầm lên oai vệ:

Vật quý là trầm hương, không thể để lọt vào tay kẻ bất lương, thưa Tam Hầu Vương.

Tuy ngài không muốn, nhưng việc binh đao cũng cần khi làm việc chính đáng.

Các sai nha đồng loạt nói “đúng vậy”. Còn sài lang con thì rầu rĩ, vì trong hàng ngũ quân của quan huyện, lại có mặt đồng loại của mình là bầy đàn sài lang già. Rồi đang đêm, trong sương mù, sài lang còn lặng lẽ một thân một mình tiến về phía quân quan huyện, tìm sài lang mưu sĩ. Nhưng sài lang con không biết rằng sài lang mưu sĩ đã dẫn theo mấy trăm con sài khác, trá hình và hiện khóc lóc trong trại quân của Tam Hầu Vương. Ngoài sài lang già mưu sĩ, một con sài khác biến thành khói xanh hiện ra một sài lang con. Đúng khi trời hửng sáng, sương mù phần nào đã tan, từ trong trại của các sai nha quân Tam Hầu Vương. Lũ sài lang phù thủy, tru dài và nhất loạt xông tới, cắn xé quân của Tam Hầu. Đồng loạt các loại quân của quan huyện, thủy binh từ suối đi lên, hỏa binh bắn tên lửa, khinh binh với giáo dài vừa tiến vừa chiến các ổ kháng cự của các sai nha quân Tam Hầu. Cảnh chiến trận tàn khốc khiến Tam Hầu vốn hiền lành không thể chịu được.

Tam Hầu một mình, không mang giáp, không gươm giáo, tiến về phía khinh binh quân quan huyện, định quy hàng. Sài lang con chạy theo dưới chân Tam Hầu, chạy trước, chạy sau, cố ý cản đường Tam Hầu, không cho tới chốn nguy hiểm. Con cọp và con khỉ cũng chạy theo. Cọp lướt qua rừng cây ý là ngăn quân quan huyện tiếp cận Tam Hầu. Còn khỉ đu dây theo quan sát, báo hiệu cho sài con. Nửa đường thì trên những cành cây, lưới sắt của khinh binh quân quan huyện ném xuống, chụp cứng Tam Hầu. Bầy diều hâu trên cao mổ xuống cặp mỏ nhọn cứng như sắt nguội trên đầu trên cổ quân quan huyện, dù có mang giáp da trâu cũng phải chạy, bầy chim ó bay tới cắn lưới định cứu Tam Hầu Vương bị tên lửa của nhóm hỏa binh ngăn chặn. Sài mưu sĩ đứng trên ngọn cây cao, xõa tóc, vuốt râu tru dài thỏa mãn. Sài lang con bị hơn trăm con sài lớn nhe nanh nhọn bao vây cắn xé. Con cọp cũng sập bẫy, con khỉ bị bẫy vòng giật chân cẳng treo lủng lẳng trên cành cây.

Cọp con nhìn cảnh tình sa nước mắt, nhưng sa cơ thất thế vì lọt hố chông bị thương nặng, vì thương Tam Hầu hiền lành nhân hậu. Tam Hầu không ăn thịt, không giết con gián, con kiến, con trùng, con dế. Không muốn ai vì mình mà phải chết. Sài lang con cũng không muốn đồng loại của mình làm việc ác, việc tham theo dưới trướng của quan huyện. Mặc dù các con sài chỉ muốn sài lang con về với bầy đàn, nhưng khi bầy đàn không tốt, thì sài lang con nay sống gần con người thật thà nhân hậu như Tam Hầu cũng phải nghĩ khác.

Một lần nữa sài lang con chạy tới khuyên dòng họ mình bỏ giáo về nhà. Con khỉ leo lên cây cao với hàng ngàn con khỉ khác, hàng ngàn con khỉ chuyền từ cành nầy qua cành kia theo chân Tam Hầu Vương. Hầu Vương bị cùm xích, nhốt trong lưới sắt, trong cũi. Áp tải trên đường về huyện.

Lúc lão đạo sĩ vãng lai qua huyện, quan huyện có thoáng thấy ánh mắt châm biếm của lão đạo sĩ nhìn hắn. Nay thì lão đạo sĩ phải cắt râu, bỏ khăn, giả trang người thường. Đứng lẫn trong dân chúng, nhìn lên giáo đài, nhìn thấy mười đao phủ đang cột trói Tam Hầu Vương. Nhìn thấy Tam Hầu bình tĩnh mỉm cười, đạo sĩ chậc lưỡi:

Đúng là Vua nhưng chỉ có một ngày, mau quá, uổng quá. Vua nầy chết để cứu người khỏi binh đao, cung kiếm.

Đạo sĩ khóc, dân chúng cũng khóc, các loài vật trong rừng cũng khóc. Quan huyện đứng bên trong cánh cửa quan cả cười. Chăm chú nhìn Tam Hầu Vương, ông không có nét mặt của một tội nhân, mà sáng ngời của một quân vương, dù chỉ là vị quân vương không ngai vàng, do những người mộc mạc phong tặng. Tam Hầu ngước mắt lên nhìn trời, về hướng cánh rừng nơi ngôi nhà cũ. Xa hơn là rừng bạt ngàn, nơi có cây trầm hương. Đúng là thiên lôi đã đánh ba búa Tầm Sét giải hạn cho Hầu. Sẽ khó chết vì tai ương bệnh tật gì. Nhưng cũng không phải là không chết vì những âm mưu. Đằng xa sương đã tan, núi non xanh ngát. Hàng ngàn cánh chim thiên di bay ngập trời đưa tiễn người hiền về trời.

Mười vị đao phủ mang mặt nạ, ngồi chung quanh miếng ván dầy, trên cột trói Tam Hầu trần truồng nằm ngửa. Họ khéo léo dùng dao mổ cực sắc, cắt gân tháo các khớp chân khớp tay, khủy và đầu gối, xương cổ và xương sống. Nếu Tam Hầu được dựng đứng lên mà không cột trói, ông cũng không bước đi được, mà chỉ rũ xuống như miếng thịt mềm nhũn. Quan huyện ra lệnh cho trưởng thôn tới gần Tam Hầu nghe ông nói lời cuối cùng. Nhưng khi trưởng thôn cúi xuống nhìn mắt Tam Hầu thì ông ta kinh hãi vì chỉ thấy một nụ cười tươi, cùng một ánh mắt tha thứ. Trưởng thôn sợ quá, hét lên một tiếng, ngã lăn xuống. Quan huyện che mắt lại không dám nhìn Tam Hầu, lúc đó ánh sáng như tia lửa mặt trời lóe lên trong mắt Tam Hầu.

Mười ngày mười đêm trôi qua. Hàng ngàn sai nha canh gác chung quanh giảo đài cũng khóc khi nhìn Tam Hầu. Ông lần hồi khô héo trên tấm ván như cái thớt thịt. Các đao phủ cũng có vị khóc, họ bắt đầu cắt chân tay của Tam Hầu, dùng dao pha chuyên dùng, cắt lạng da Tam Hầu cho vào một giỏ, xương nhỏ lụn vụn, như đốt xương tay chân bỏ vào một giỏ, thịt cắt nhỏ bỏ vào cái giỏ khác, máu thì bỏ vô cái tô lớn mang đi bêu. Quan huyện cho đem các thứ xương thịt của Tam Hầu đi treo khắp cổng vào thành. Tam Hầu bây giờ ở trên thớt là một khúc thịt tròn không chân không tay, nhưng vẫn cười tươi. Mỗi lần thấy nụ cười trên môi Tam Hầu, quan huyện lại đau nhói từng khúc ruột, đáng lý Tam Hầu bị hành khảo phải đau hơn, nhưng quan huyện là một người như sắp chết, vì không thỏa mãn, trong ý định của mình, y không cười được.

Đàn chim thiên di vẫn bay trên trời, hết bầy này thay bầy khác, chờ Tam Hầu thở hơi cuối cùng. Thì đưa ông về trời. Sài lang con tru dài thảm thiết, nó phục dưới giảo đài nhiều ngày đêm. Mặc cho những con chó mập ú ngu đần của quan huyện tới sủa, rồi ngửi cắn. Sài lang con cứ tru dài cho tới nỗi trưởng thôn đà rồ dại cũng phải bịt tai. Các vị đao phủ, bây giờ chỉ còn tám vị. Lại dùng dao nhỏ mở ổ bụng Tam Hầu. Quan huyện cố ý phơi ruột Tam là để lũ quạ diều đang bay đầy trời trên thành, sà xuống tha mổ ruột Tam kéo đi. Nhưng chúng lại bay vồ vập tới khung cửa nơi quan ngồi, mổ cắn chính hắn. Một số diều hâu bay xuống, mỏ cắp chiếc lá thuốc dán trên những vết thương của Tam Hầu. Một số tha mồi là cải, măng, nước suối thả vô miệng Tam. Các vị đao phủ vừa khóc vừa tùng xẻo Tam Hầu. Cứ mỗi lần thân thể Tam Hầu rời một miếng thịt nhỏ, thì lạ thay, điều nầy quan huyện cũng không hay: trên cây bá mọc nơi thâm sơn cùng cốc, thân cây có mảnh trầm hương lớn, cứ lóe sáng. Một miếng trầm cháy đỏ và bốc khói thơm lên trời. Mảnh trầm hương mất dần theo da thịt bị tùng xẻo của Tam Hầu Vương. Như là hồn của ông bay đi.

Trên tấm thớt chỉ còn bộ xương trắng, lóc hết thịt của Tam Hầu. Thịt thì đầy mấy cái giỏ nhỏ lại mang đi bêu. Khó ai ác bằng quan huyện mặt tái môi thâm nầy. Và rồi đang trời quang mây tạnh, trời bỗng tối sầm, mặc dù lúc đó đúng ngọ. Bóng của cái cây giáo cắm dưới đất đầy máu Tam Hầu không dài, mà cụt tới gốc. Mây cuồn cuộn trôi tới và những tiếng nổ rền trên bầu trời. Tia lửa xanh rì rì, dài ngoằn ngoèo, từ trên kéo xuống, nổ đanh giòn, ngay cánh cửa chạm khắc toàn đầu dơi đuôi chuột của quan huyện.

Chỉ thấy ông ta bốc cháy, khét lẹt, như người ta quay một con heo già lửa. Lần nầy thì kẻ chửi cha mắng mẹ là quan huyện phải chết. Là một lẽ. Nhưng Tam Hầu cũng đã chết vì lòng tham và quyền lực của quan tham. Đây là câu chuyện mà những người ngậm ngải tìm trầm, hậu thế của Tam Hầu, về sau nầy hay kể lại lúc nửa đêm, bên ánh lửa trong rừng sâu. Chuyện về Tam Hầu Vương hay là con cháu chít chắt của các sai nha bỏ ngũ. Nay thì thành một cái làng sai nha bên kia núi nói về vị vua một ngày của họ là Tam Hầu.

Chuyện nầy thì mọi người từ đời nầy qua đời khác vẫn kể giống nhau. Riêng chi tiết cái chết của hai người – Quan Huyện Thú và Tam Hầu Vương – người ta kể khác nhau, khác về cách kể, khác về giọng kể, và khác hẳn về truyện. Tại sao Tam Hầu phải chết – Tam Hầu người hiền tới nỗi Thiên Lôi đánh trúng ba búa không chết, phải ghi vào sổ Nam Tào là số giải hạn. Còn quan huyện Thú thì ác cũng tới nỗi thiên lôi quay búa tầm sét đánh y ba lần, khi y ở ngoài đồng. Không phải số giải hạn cho nên đánh lần thứ tư y mới chịu cháy mà chết. Cho hay kẻ ác hại người. Thiên bất dung thứ, mà cũng khó chết đền tội. Đáng lý thiên lôi thi hành án trước khi quan Thú dùng lưới sắt bắt được Tam Hầu, thì Tam đâu có bị hắn bêu da xẻ thịt. Mới hay, người hiền cũng dễ chết vì trên thi hành án chậm. Cho nên lành dữ khó mà phân minh. Sài lang cuối cùng phục trên mộ Tam Hầu mà chết theo chủ. Thú dữ nổi tiếng phản trắc cũng có cái nghĩa của nó. Và tới bây giờ, mỗi lần nhìn trời mưa, tia sét ngoằn ngoèo sấm động vang rền, người lớn hay đe con nít: Tam Hầu Vương về. Nín đi, ngủ đi, ăn đi. Nói như vậy, thiên hạ vẫn gieo tiếng ác cho người tốt chăng.

MẠC CAN

(Báo điện tử Đại Biểu Nhân Dân)